Ý nghĩa hoa văn trống đồng và những điều chưa biết

Trống đồng được coi là bảo vật của Việt Nam. Hiện nay, trống đồng rất được yêu thích và sử dụng làm quà tặng, trang trí nội thất. Tuy nhiên, không phải vị khách nào sở hữu chiếc trống đồng đều hiểu về ý nghĩa tiềm ẩn của những hoa văn tinh xảo trên chúng. Đây không chỉ là những tinh hoa của người nghệ nhân chế tác mà còn là nét đẹp mà bao đời nay ông cha ta vẫn lưu truyền từ đời này sang đời khác. Cùng Lê Gia, tìm hiểu về ý nghĩa của những hoa văn trên trống đồng và khám phá những điều mà bạn chưa biết nhé.

Trống đồng có nguồn gốc từ đâu ?

Cho tới nay, vẫn chưa đi được đến một kết thống nhất rằng trống đồng xuất xứ Việt Nam hay Trung Quốc – một truyền thống mà có thể đã được chia sẻ giữa tổ tiên của cả hai. Thực tế rằng tại thời điểm phát minh ra trống đồng, đã không có một đường biên giới giữa Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Do vậy, sự giao thương về văn hóa đã xuất hiện trong nhóm người sống trên vùng đất rộng lớn này.

Người đứng ngoài cuộc tranh luận này, ông Charles Higham – học giả phương tây, đã nêu ra giả thuyết rằng trống đồng đã được tạo bởi các nghệ sĩ tài hoa của một nhóm các xã hội có tổ chức ngày càng phức tạp với địa bàn trải rộng qua biên giới Việt-Trung hiện đại, để trang bị cho các chiến binh và làm biểu tượng cho vị thế cao của những người lãnh đạo. 

Ông viết: “Việc tìm kiếm nguồn gốc tại một vùng này hay vùng khác đã bỏ qua điểm quan trọng. Các thay đổi đã được thực hiện suốt từ vùng mà ngày nay là miền Nam Trung Hoa tới đồng bằng sông Hồng bởi các nhóm người mà thời đó đã trao đổi hàng hóa, tư tưởng, và cùng chống lại sự bành trướng từ phía Bắc của một quốc gia hùng mạnh và hiếu chiến”

Quan điểm này tương đồng với sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam, Trung Quốc, hay phương Tây rằng trống đồng là sản phẩm của người Lạc Việt – tộc người Việt cổ được cho là có địa bàn sinh sống trải từ miền Nam Trung Quốc tới miền Bắc Việt Nam.

Ý nghĩa trống đồng trong văn hóa xưa?

Trống đồng là một loại nhạc cụ gõ bằng đồng xuất hiện tại vùng Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc, xuất hiện từ thời đại đồ đồng.

Trống đồng không chỉ có chức năng nhạc khí mà còn có những chức năng khác như làm biểu tượng cho quyền lực, tôn giáo. Theo tín ngưỡng của người Việt, trống đồng là một vật linh vì có vị thần tự xưng là thần trống đồng, tức thần Đồng Cổ đã giúp nhiều triều đại Việt Nam trong việc giữ nước hộ dân trải từ thời Vua Hùng, đến nhà Lýnhà Trần

Trong các nghi lễ tôn giáo, trong lễ hội và trong chiến tranh trống được người thủ lĩnh sử dụng để kêu gọi mọi người từ khắp nơi tụ về để cùng chiến đấu. Tiếng trống âm vang xa, hùng tráng như truyền sức mạnh cho đoàn quân tiến lên. Có thể thấy trống là biểu tượng của quyền lực và thường thuộc về những người thủ lĩnh, đứng đầu. Người thủ lĩnh có quyền lực càng lớn thì trống càng to và đẹp. Trong nét văn hóa, trống đồng cũng được coi như món tài sản quý, và được chôn lúc người chủ qua đời.

Ngày nay, ngoài hàng trăm chiếc trống đồng được lưu giữ và trưng bày trang trọng ở các bảo tàng quốc gia và các địa phương, thì dường như trống đồng đã vắng mặt trong cuộc sống đời thường kể cả những dịp hội hè, lễ tết, người ta chỉ còn gặp trống đồng ở các viện bảo tàng và các truyện cổ tích.

Dẫu vậy, ở vùng đất Thanh Sơn miền tây của tỉnh Phú Thọ là nơi duy nhất tại Việt Nam vẫn còn ngày hội Trống đồng của dân tộc Mường với “Đâm Đuống” và “Chàm thau”[1]. Đây cũng là một trong số những vùng của Việt Nam phát hiện được nhiều trống đồng trong lòng đất nhất. Chính vì lý do đó mà gần đây Việt Nam đã khôi phục một tập tục đánh trống đồng ngày giỗ Tổ các vua Hùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm.

Trống đồng cũng là nhạc cụ gõ phổ biến trong các dân tộc Khơ MúLô Lô và Mường ở Việt Nam hiện nay. Trong những cộng đồng này người ta sử dụng nó với mục đích tang lễ, ngoài ra không dùng cho bất kỳ trường hợp nào khác.

Theo các nhà nghiên cứu khảo cổ học?

Trống đồng là một trong những loại di chỉ khảo cổ học quan trọng nhất tìm được tại Đông Nam Á và phía Nam Trung Quốc. Tại các vùng này, từ thời tiền sử cho đến nay,  các nhóm dân tộc đã sử dụng trống đồng . Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trống đồng ở nhiều vùng khác nhau ở Đông Nam Á, nơi tìm thấy trống thường là khu mộ táng quan trọng, đây là mộ của những người đứng đầu. Nhiều trống được tìm thấy dọc theo các con sông và đường thủy ở Đông Nam Á, do đây là hình thức giao thông chính của dân cư bản địa thời đó.

Ngoài ra, trống đồng cũng được các nhà khảo cổ tìm thấy ở nhiều nơi như: IndonesiaThái LanMyanmaLàoCampuchiaMalaysiaPhilippines và Nhật Bản.

Trống đồng đã có vai trò quan trọng bậc nhất trong văn hóa Đông Sơn – nền văn hóa được biết đến với những trống đồng trang trí cầu kỳ được tìm thấy ở nhiều nơi ở Đông Nam Á và Bắc Việt Nam. Số lượng lớn trống Đông Sơn đã được tìm thấy tại Mê Linh – trung tâm của văn hóa Đông Sơn. Nhiều trống Đông Sơn cũng được tìm thấy ở đồng bằng sông Hồng – vùng dân cư đông đúc thời cổ.

Có bao nhiêu loại trống đồng và trống đồng nào là đẹp nhất?

Theo nhà khảo cổ học người Áo Franz Heger phân loại:

Trống đồng Hoàng Hạ, loại Heger I, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
  • Trống Heger I, còn được nhiều người gọi là trống Đông Sơn. Trống loại này thường lớn, thân trống hình trụ thẳng đứng. Mặt dưới để trống, mặt trên có hình sao đúc nổi với 12 cánh. Trên một số trống, chỉ có 8 cánh sao, như trống đồng Quảng Xương, hoặc 14 cánh như trống đồng Ngọc LũSông ĐàThượng Lâm. Hoặc 16 cánh như Hoàng Hạ, Salayar. Trống loại này được tìm ở khắp vùng Đông Nam Á, nhưng tập trung nhiều nhất ở Việt Nam.

Trong danh sách các trống Heger I, tiêu biểu nhất là các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, và Sông Đà.

Trống đồng Lạng Sơn, loại Heger II, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
  • Trống Heger II: thân trống chỉ có 2 phần, không có hình người hay vật nữa, thay vào đó toàn là hoa văn hình học. Trên mặt trống thường có hình khối bốn con cóc, đôi khi sáu con. Mặt trời có 8 tia. Loại này phân bố ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây, Trung Quốc; ở Việt Nam cũng có nhiều loại trống này và còn được người Mường sử dụng, nên có người gọi là trống Mường.
Trống đồng Tân Độ, loại Heger III, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
  • Trống Heger III có quai nhỏ đẹp. Mặt trời có 12 cánh. 4 góc mặt có cóc, thường là ba con chồng lên nhau thành 12. Trang trí toàn bằng họa tiết hình học và hoa văn. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống”. Đôi khi ốc thay voi. Được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma và Vân Nam (Trung Quốc).
Trống đồng Long Đọi Sơn, loại Heger IV, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
  • Trống Heger IV có kích thước thường nhỏ, không có cóc. Ngôi sao bao giờ cũng 12 tia, nhiều khi rõ tên 12 con vật địa chi. Tìm thấy ở Trung Quốc và Việt Nam.

Trong cách phân loại này thì Trống đồng Heger I là trống đồng cổ nhất. Trong số đó, trống đồng Ngọc Lũ được cho là phiên bản đẹp nhất của Trống đồng Đông Sơn.

Hoa văn trên trống đồng có ý nghĩa như nào?

Như đã phân loại, trống đồng có rất nhiều loại tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, Lê Gia xin chia sẻ với quý khách về hoa văn, họa tiết trên dòng trống đồng Đông Sơn.

Nhìn lên hoa văn trên trống ta có thể thấy đây là các hình mang tính biểu tượng, ước lệ và cách điệu cao. Từng đường nét hoa văn trên trống khúc triết, đơn giản mà tự nhiên, sinh động (hình người, chim, thú, nhà, thuyền,…).

Tùy theo phiên bản của trống đồng Đông Sơn là Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Quảng Xương,… mà hình tượng ngôi sao nhiều cánh biểu tượng mặt trời được thể hiện khác nhau. Xung quanh là các vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng đều có hình trang trí, trong đó có ba vòng được trang trí hình người và vật, một vòng có hình hươu và chim xen kẽ, một vòng có hình loại chim ăn cá, con đứng, con bay

Trống đồng Đông Sơn – Bức tranh sinh động của nền văn hóa Đông Sơn

Nền văn hóa Đông Sơn khởi nguồn tại vùng Bắc Trung Bộ trên hạ lưu sông Mã, sông Cả đến châu thổ sông Hồng. Trải qua một ngàn năm, bắt đầu từ sớm của thế kỷ 8-7 TCN và kết thúc vào thế kỷ 1 và 2 SCN. Nền Nền văn hóa này đã trải qua và cho thấy sự phát triển của người Việt cổ. Tiếp theo các nền văn hóa sớm hơn như văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Gò Mun, tiền đề của thời dựng nước.

Đến nay, các nhà khảo cổ học đã tìm và phát hiện gần 1.000 trống lớn nhỏ, không kể những trống bị vỡ nát trên những địa bàn thuộc phạm vi nền văn hóa Đông Sơn (miền Bắc Trung Bộ và châu thổ sông Hồng), và chúng còn được tìm thấy ở một số tỉnh khác như Gia Lai-Kontum, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam-Đà Nẵng, Bình Định, Nha Trang, Bình Dương, Vũng Tàu, Kiên Giang. Trống đồng Đông Sơn cũng được phát hiện ở Miền Nam Trung Hoa, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Hiện nay, trống đồng cổ còn thấy ở nước Mỹ (Nam California).

Bức tranh sinh hoạt nông nghiệp trên trống đồng Đông Sơn

Nền nông nghiệp sơ khai của cư dân nước Việt cổ đã xuất hiện vào thời tiền sử khoảng 10.000-8.000 năm trước (thời đại Đá Mới), do ngành khảo cổ học phát hiện phấn hoa và bào tử của các loại cây củ đậu, hạt quả… và khai quật được nhiều vỏ ốc sò và dụng cụ đá hoạt động ghè đẽo một mặt trong các hang động của nền văn hóa Hòa Bình. Cho đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn (khoảng 7.000-5.000 năm sau văn hóa Hòa Bình) – một nền văn hóa nổi tiếng của nước Văn Lang (hay Lạc Việt) trong thời đại kim khí bắt đầu cách nay khoảng 2.700 năm – nền nông nghiệp Cổ Đại đã tích lũy nhiều tiến bộ quan trọng và đã trở nên nề nếp, xã hội đã sản xuất lương thực dư thừa qua khai quật tìm thấy các hầm ngũ cốc thối nát trong đất, chậu gốm lớn, thạp đồng, kho vựa .

Có thể nói tuy rằng trống đồng Đông Sơn sinh ra tại thời kì nền nông nghiệp sơ khai. Nhưng những nét hoa văn trên trống lại cho thấy những tích lũy, trình độ điêu luyện và đức tính cần cù, siêng năng của người Việt Cổ đã tạo nên những những chiếc trống đồng hết sức tinh xảo. Đây cũng là thời điểm mà nghệ thuật luyện kim đúc đồng thau và sau đó đã khám phá ra kim loại sắt.

Một số những cảnh sinh hoạt trong thời kì này đã được các nghệ nhân khắc lên trống đồng. Các hoa văn trang trí được khắc trên mặt, tăng và thân trống. Với những đường nét gồm có các loại: mặt trời, nhà sàn, người giã gạo, chim cò bay, đàn hươu, thuyền và người đánh trống, nhảy múa, đối đáp. Những hình ảnh này khiến ta liên tưởng tới một bức tranh đồng quê trong thời kỳ thịnh vượng với chim cò tung bay ngoài đồng ruộng, người dân làm nông trong mưa nắng dưới ánh mặt trời, biết chăn nuôi gia súc, sắn bắn, biết đánh bắt cá tôm, trồng trọt. Nhất là làm vụ lúa nước theo mùa, biết thu hoạch theo thời tiết và hoan ca chào đón ngày cuối vụ hay chào mừng hạt thóc mới, hò hát, giã gạo, nhảy múa kết đoàn dưới trăng. Họ còn biết trao đổi thương phẩm với nhiều bộ tộc, quốc gia láng giềng bằng hàng hải với các ghe thuyền gỗ vượt sông biển. Hoa văn phổ biến nhất trên mặt trống đồng Đông Sơn là hình ảnh các loài chim, người cũng hóa trang chim, đội mũ gắn lông chim, mũi thuyền có mắt chim tròn.

Họa tiết chim muông trên trống đồng

Có thể cảm nhận được thời kì này chim là loài vật tổ rất được tôn kính của người Lạc Việt bên cạnh thần Mặt trời.

Ngoài hình ảnh loài chim được xem là vật tổ thì hình tượng mặt trời được khắc chính giữa mặt trống cho thấy người Việt cổ thờ thần mặt trời và sùng bái thiên nhiên. Bà mẹ thiên nhiên ban tặng cho con người giúp cho họ có được cuộc sống ấm no. Khi mưa bão hay hạn hán cuộc sống của họ cũng ảnh hưởng theo. Họ trông cậy tất cả vào những gì bà mẹ thiên nhiên ban tặng và tôn sùng điều đó.

Trông trời, trông đất, trông mây,

Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm.

Các hoa tiết hình thuyền chiến, thuyền đua, xương cá, các loại cá, rắn, nhà sàn, lầu gác cho thấy ngành ngư-lâm cũng rất quan trọng trong sinh hoạt thời bấy giờ. Người dân biết khai thác rừng để làm nhà ở, lấy gỗ đóng thuyền dùng trong ngư nghiệp và làm phương tiện di chuyển. Các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày, và vũ khí gươm giáo chống giặc.

Trong thời Cổ đại, có một bộ phận người chuyên sống với nghề biển, sông hồ. Do đó, họ biết khai thác các chiến thuyền để chống ngoại xâm bảo vệ xứ sở và phát triển nghề đánh bắt cá, ốc sò để làm đa dạng thêm lương thực. Đây cũng là lý do nhiều trống đồng được tìm thấy ở Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và vài nước Đông Nam Á.

Hình ở trên :Thuyền chiến với những người lính cầm đao, giáo, chó săn, người bắn cung, trống trận;

Hình ở dưới: Thuyền chiến, binh lính cùng chim, cá, rùa dưới nước.

Họa tiết hình người giã gạo trên trống đồng

Các họa tiết hình vũ công múa hát, hóa trang trong lễ hội, tục đối đáp khắc trên trống đồng, và hoạt cảnh hát hò trong khi chèo thuyền, đánh cá, làm ruộng…. Trong nhà sàn, từng cặp nam nữ ngồi đối diện, lồng tay chân nhau cùng ca hát, đối đáp . Từng hoạt cảnh khắc nối tiếp nhau cho thấy đời sống văn hóa thời điểm này cũng rất sống động, các lễ hội được tổ chức theo chu kì.

Trống đồng là một loại lịch thời Hùng Vương

Một số nhà khảo cổ nghiên cứu và đánh giá hoa văn trên trống đồng Hoàng Hạ là một loại lịch thời Hùng Vương. Dựa vào đây có thể xác định được các ngày tiết trong năm. Đó là loại lịch ngày âm (Hình 4), kết hợp chu kỳ mặt trăng và mặt trời, bắt nguồn từ văn hóa Bách Việt, mang đậm nét văn hóa nông nghiệp lúa nước ở phương Nam. Số lượng của các tia, chim bay, hươu, thuyền hầu hết là số chẳn, cho thấy cư dân thời bấy giờ đã biết đo đếm. Số tia 12 chiếm đa số liên quan đến số tháng trong năm thể hiện 12 tháng trong năm.

Âm lịch Việt (hình bên trái) và bốn mùa (hình bên phải) trên trống đồng Ngọc Lũ

 

Từ trống đồng cổ xưa đến những tuyệt tác trống đồng tại Lê Gia

Ngày nay, trống đồng không chỉ là quốc bảo được lưu trữ trong các bảo tàng Quốc Gia mà còn được phổ biến ở các làng nghề đúc đồng. Trong đó, không đâu có nét hoa văn riêng và đẹp như tại Thanh Hóa. Với sự tỉ mỉ cùng bàn tay điêu luyện của những người nghệ nhân, Lê Gia đã tạo nên rất nhiều những quả trống, mặt trống, hay trống đồng quà tặng. Vật phẩm này được quý khách hàng không chỉ trong mà cả ngoài nước ưa thích bởi sự tinh xảo từ những đường nét.

Trống đồng thường được sử dụng bày phù hợp tại các không gian phòng khách, phòng làm việc, phòng họp hay các đại sảnh công ty, tập đoàn. Trống cũng được chế tác làm những món quà tặng mừng lãnh đạo, người thân, bạn bè, hay quà tặng hội nghị, sự kiện gọi là trống đồng lưu niệm. Đây là một nét đẹp trong văn hóa góp phần lưu truyền những giá trị văn hoá truyền thông của Việt Nam.

Cùng chiêm ngưỡng 1 số các tác phẩm trống đồng mà các nghệ nhân Lê Gia đã chế tác:

Tranh mặt trống đồng Ngọc Lũ được khách nước ngoài lựa chọnTranh Mặt Trống Đồng Đỏ Hoa Sen 1m76x1m07

Mẫu tranh mặt trống đồng Tứ quý

Tranh mặt trống đồng thếp vàng

Mặt trống đồng đường kính 81cm hình Bản đồ Việt Nam hoa văn chìm

Mặt trống đồng hoa văn chìm bản đồ VIệt Nam

Quả trống đồng cỡ lớn 50 cmVì Sao Trống Đồng Là Biểu Tượng Văn Hóa Của Người Dân Việt

Mẫu trống đồng hoa văn nổi

Tài Liệu Tham Khảo:

  1. Viện Khảo Cổ Học, 1999. Thời Đại Kim Khí Nam Bộ. Khảo Cổ Việt Nam, Tập II. NXB Khoa Học Xã Hội, tr. 349-398.
  2. Hoàng Xuân Chính, 2012. Đồ đồng văn hóa Đông Sơn. NXB Văn hóa thông tin, TP/HCM, 238 trang.
  3. Nguyễn Địch Dỹ và Đinh Văn Thuận. 1981. Kết quả phân tích bào tử phấn hoa ở Hạ Sơn, Phiêng Tung, Nà Khù. Thần Sa- những di tích của con người thời đại đá. Bắc Thái 1981.
  4. Trần Văn Đạt. 2010. Lịch sử trồng lúa Việt Nam. NXB 5 Star Printing, Nam California, Huê Kỳ, 489 trang.
  5. Lê Văn Siêu. 2006. Ý nghĩa những hình vẽ trên bề mặt trống đồng Ngọc Lũ. Trong Việt Nam văn minh sử (http://www.lyhocdongphuong.org.vn/van-hien-lac-viet/).
  6. Wikipedia.org.
  7. Vũ Thế Long. 1979. Di tích động vật ở di chỉ Đa Bút (Thanh Hóa). NPHM, Viện Khảo Cổ Học 1979.
  8. Nguyễn Duy Xuân. 2011. Trống đồng Đông Sơn. (http://nguyenduyxuan.net/t-liu/lich-su-van-hoa/974-trng-ng-ong-sn Nguồn: CINET.gov.vn).